Facebook chat


TÂM LÝ HỌC VỀ TINH THẦN LÀM CHỦ

Đăng lúc: 03-10-2016 - Đã xem: 486

TÂM LÝ HỌC VỀ TINH THẦN LÀM CHỦ

 

1. Đặt vấn đề

 

Tâm lý học tổ chức và nhân sự vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ ở Việt Nam, từ cơ bản đến chuyên sâu. Tâm lý học về tinh thần làm chủ đã được khởi xướng trong thời gian gần đây nhằm bổ sung cho nền tảng lý luận khoa học liên quan đến các hoạt động phát triển tổ chức được bài bản và hiệu quả hơn. Bài tổng luận này trình bày quan điểm về tinh thần làm chủ (entrepreneurship) và các lĩnh vực được quan tâm trong tâm lý học tổ chức, chẳng hạn tiến trình hoạt động của tinh thần làm chủ, ý định của tinh thần làm chủ, động cơ trở thành là một người chủ, và tính cách và năng lực của người làm chủ. Cuối bài viết là lời đề nghị của tác giả cho việc xây dựng một chương trình đào tạo về tinh thần làm chủ cho sinh viên, và mở rộng cho các đối tượng khác tại Việt Nam.

 

2. Nội dung

 

2.1.           Quan niệm về tinh thần làm chủ

 

Entrepreneurship nên được dịch là “tinh thần làm chủ" và những người entrepreneur là những người “làm chủ”. Làm chủ ở đây, không gói gọn trong việc tạo dựng một doanh nghiệp riêng, xây dựng một đế chế để thay đổi thế giới; việc làm chủ còn có thể hiểu theo nghĩa chủ động làm chủ được cuộc đời mình, cuộc sống và môi trường xung quanh (Kate Nguyen, 2014)

 

Tinh thần làm chủ được định nghĩa bằng hành động của người làm chủ – khởi đầu một tổ chức (Gartner, 1989). Bao gồm khám phá, lượng giá, và khai thác các cơ hội (Shane và Venkataraman, 2000). Tinh thần làm chủ đề cập đến những con người hành động để thay đổi thế giới và thường thể hiện không chỉ là “tìm ra cơ hội” nhưng là hình thành nên chúng (Schumpeter, 1935). Nó không chỉ đề cập đến các nhà khởi nghiệp hay những người đang điều hành các tổ chức kinh doanh, mà nó mang tính rộng hơn, áp dụng cho cả những người khai mở ra các doanh nghiệp xã hội. (Trích lại từ Frese, 2009)

 

2.2.           Tinh thần làm chủ bắt đầu được tâm lý học quan tâm

 

Một cách đơn giản, ở đâu có hoạt động của con người thì ở đó có nghiên cứu tâm lý học. Trong chủ đề này, về tinh thần làm chủ và người làm chủ, tâm lý học tổ chức tìm hiểu về tiến trình bắt đầu và phát triển của tổ chức. Tâm lý học tổ chức không phải chỉ quan tâm đến chuyện người khởi đầu có vai trò quan trọng trong việc hình thành cấu trúc và văn hóa của tổ chức mà còn sự năng động của việc phát triển, duy trì kích cỡ của tổ chức, hoặc liên quan đến các doanh nghiệp phá sản, tất cả cần được tâm lý học tổ chức lưu tâm (xem: Katz and Kahn, 1978; Schein, 1987)                                          

 

Các chương trình đào tạo doanh nghiệp và kể các các nhà tâm lý học tổ chức thường bỏ qua việc nghiên cứu tâm lý học về người làm chủ và tinh thần làm chủ, nhưng càng ngày càng có nhiều chứng cứ cho thấy: Thứ nhất, nhân cách có thể đóng một vai trò quan trọng trong tinh thần doanh nghiệp (xem Carter et al, 2003; Chell et al., 1991; Rauch và Frese, 2007; Zhao và Seibert, 2006); Thứ đến, việc trải nghiệm trong thực tếlà rất quan trọng đối với các biến tâm lý (Xem: Baron, 2002; Baron et al., 2007; Baum et al., 2007; Baum and Locke, 2004; Foo et al., 2009; Frese, 2007; Rauch and Frese, 2000); Thứ ba là tâm lý học đã chuyển đổi, không chỉ chú trọng dến các đặc tính nhân cách ma còn nhấn mạnh đến một số yếu tố khác (Xem: Baron, 2002; Baum et al., 2007; Foo et al., 2009; Shaver and Scott, 1991); Sau cùng, các hành động mang tính làm chủ cần được nghiên cứu theo hướng tâm lý học (Rauch và Frese, 2000). (Trích lại từ Frese, 2009)

 

Mạng lưới quốc tế nghiên cứu và giáo dục tâm lý học về tinh thần làm chủ của Châu Âu được thành lập vào năm 2005 nhằm đẩy mạnh nghiên cứu theo hướng tâm lý học về tinh thần làm chủ nhằm ứng dụng trong thực tế (xem: www.inpere.org), đặc biệt quan trọng đến giáo dục và đào tạo. Chương trình hợp tác này tại châu Âu nhằm:

-      Cung cấp cho sinh viên tổng quan, và những hiểu biết về những thách thức và cơ hội cho việc làm chủ một tổ chức

-      Cung cấp phương pháp và kỹ thuật để phát triển các kỹ năng được yêu cầu để trở thành một người làm chủ

-      Dạy sinh viên những nghiên cứu mới nhất về tinh thần làm chủ từ các khoa học xã hội và hướng dẫn các em cách thức để áp dụng vào trong thực tế

-      Chuyển tiếp các chương trình đào tạo và giáo dục cho sinh viên sau đại học các trường châu Âu

-      Thúc đẩy các nhóm làm việc đa ngành và các hành vi tự khởi đầu giữa những người tham gia nhóm liên quan đến tinh thần làm chủ

-      Sáng tạo các chương trình đào tạo và huấn luyện mới và xây dựng các tài liệu học tập hiệu quả

-      Phổ biến các kết quả đến các nhóm mục tiêu gồm các doanh nhân tiềm năng và người huấn luyện doanh nhân

 

Nội dung của chương trình này rất đa ngành, bắt đầu từ các biến về tâm lý, như động cơ, đặc tính nhân cách, thái độ, năng lực, nhận thức, và bao gồm cả nhận diện và phát triển các cơ hội, chọn lựa một đội làm chủ, khuyến khích công ty phát triển, tự phát triển, và cả vấn đề sức khỏe (Moriano&Valero, 2007., trong León & Gorgievski, 2009)

 

2.3.           Những quan tâm của tâm lý học tổ chức và nhân sự đối với việc phát triển tinh thần làm chủ

 

Tâm lý học tổ chức đã có những lưu tâm thể hiện qua hàng loạt nghiên cứu khoa học về chủ đề này – tâm lý học về người làm chủ/ doanh nhân, về tinh thần làm chủ/ tinh thần doanh nghiệp, hành vi làm chủ, ý định làm chủ, văn hóa làm chủ… Dưới đây tôi xin liệt kê những yếu tố, khía cạnh chính yếu trong việc hình thành và phát triển một tổ chức, dưới góc nhìn của tâm lý học tổ chức. Những chủ đề này cách nào đó tại Việt Nam chưa được đề cập đến với vai trò của tâm lý nhưng dưới cách nhìn của những nhà quản trị hoặc quản trị kinh doanh đã có đề cập đến ít nhiều.

 

2.3.1. Tiến trình hoạt động của tinh thần làm chủ

 

Cách tiếp cận mà sau này đã có những đánh giá là không phù hợp là nhấn mạnh đến một hồ sơ nhân cách của người làm chủ (entrepreneur), bao gồm: Nhu cầu thành đạt (McClelland, 1965); Thiên hướng chấp nhận rủi ro (Miner & Raju, 2004); Khả năng kiểm soát nội tại (Kaufmann, Welsh& Bushmarin, 1994); Và sự tự tin vào bản thân (Markman, Balkin, & Baron, 2002).

 

McCleland (1965), nhu cầu thành đạt là khuynh hướng chọn lựa và thep đuổi đến cùng nhằm giữ lấy cơ hội thành công hoặc là tối đa các cơ hội để đạt được những thành tựu cá nhân mà không có những nguy cơ thất bại. Trong doanh nghiệp, thì giám đốc marketing thường là người có nhu cầu nào cao nhất. Nhu cầu này được xem như là một thông tin dự báo cho cho doanh nghiệp.

 

Theo Miner & Raju (2004) người có tinh thần làm chủ thường có khuynh hướng chấp nhận những rủi ro cao hơn các giám đốc điều hành.

 

Khả năng kiểm soát nội tại (internal locus of control). Rotter (1966) cho rằng đó là một nhận thức của cá nhân về nguyên nhân chính yếu trong cuộc sống của họ. Họ, những người có khả năng kiểm soát nội tại tin rằng họ có thể kiểm soát những gì xảy ra trong cuộc sống. (Rotter, 1966) Nghiên cứu cho thấy những ai có khả năng kiểm soát nội tại thường có khuynh hướng bộc lộ nhiều hơn nhu cầu thành đạt (Brockhaus 1982; Lao 1970; Gurin et al 1969).

 

Budner (1962) định nghĩa kiên nhẫn với sự không rõ ràng nghĩa là “khuynh hướng tiếp nhận những sự mơ hồ/ nhập nhằng như là những tình huống đáng khao khát/ trông đợi. Trong khi ngược lại thì là đón nhận những sự không rõ ràng như nguồn của đe dọa” (trang 29). Tình huống không rõ ràng nghĩa là nó phức tạp, không thích đáng. Những giám đốc doanh nghiệp thường tin rằng sự kiên nhẫn với mơ hồ hơn là các giám đốc điều hành vì giám đốc doanh nghiệp đối diện với những thứ ít cấu trúc, không phải là những gì luôn có thể (Bearse, 1982). Nghiên cứu cũng tìm thấy có sự tương quan thuận giữa sự kiên nhẫn với mơ hồ và những hành vi chấp nhận rủi ro của doanh nhân, và tính sáng tạo (Tsui, 1993). (Trích lại từ: Okhomina)

 

Rất nhiều tác giả về sau đã chuyển hướng nhìn sự thay đổi của tinh thần làm chủ sang tiến trình hoạt động của việc làm chủ. Theo hướng này, người làm chủ được xác nhận dựa vào hành động của họ tham gia vào tiến trình làm chủ chứ không phải dựa trên một số đặc điểm nhất định. Tiến trình này được chia làm thành ba giai đoạn: Chuẩn bị cho việc công bố một tổ chức mới (pre-launch phase); Theo đuổi việc công bố một tổ chức mới (the start-up); và Những sự phát triển sau công bố thành lập (Moriano, Zanowska, & Palací, 2007. Trong León & Gorgievski, 2009)

 

 

Giai đoạn đầu khi một người với tinh thần làm chủ sẽ xác định các cơ hội cho bản thân và cho công việc từ cá nhân, thông qua các mối quan hệ và từ xã hội. Ý tưởng kinh doanh được hình thành từ những cơ hội này, hẳn nhiên người có tinh thần làm chủ phải vượt qua được các rào cản và trở ngại từ cuộc sống và bối cảnh của bản thân. Sự phát triển tâm lý của con người có thể xem như được hình thành thái độ, động cơ, và sự tự nhận thức. Thái độ đặc biệt hướng tới việc làm chủ, những chuẩn mực chủ quan, và sự tự tin vào bản thân… là cần thiết nhưng không nhất thiết là điều kiện đủ để một người có thể làm chủ (Pihkala & Vaselainen, 2000). Tuy nhiên, người làm chủ còn vượt qua các rào cản liên quan đến tuổi tác, giáo dục và khuynh hướng sự nghiệp… Vượt qua được các rào cản đó và hướng đến việc thành hình một tổ chức kinh doanh.

 

Giai đoạn hai là giai đoạn hình thành nên một tổ chức, nó bao gồm việc phát triển và thực hiện các chiến lược cho tổ chức đó, dựa vào những bối cảnh bên ngoài xã hội liên quan đến ngành nghề, cấu trúc của hệ thống công nghiệp, dự báo về nguồn lực, xây dựng thành một tổ chức bao gồm phát triển năng lực, hình thành chiến lược kết nối, khách hàng, và xây dựng văn hóa và giá trị của tổ chức. Khi tổ chức đã đạt tới được sự tồn tại tự thân thì đã vượt qua được giai đoạn hình thành. Lúc này tổ chức thường không phải lệ thuốc vào đội sáng lập nữa, các nguy cơ được giảm xuống, và cơ hội tồn tại tăng lên. Tổ chức mới cũng phải đạt được sự ổn định về tài chính trong nỗ lực lôi kéo thêm nguồn quỹ cho sự phát triển (xem: Carton, Hofer, & Meeks, 1998)

 

2.3.2. Những ý định làm chủ

  

Mặc dù có những chứng cứ cho thấy vài cá nhân có những đặc tính tâm lý gắn với ý định làm chủ nhưng ngược lại nếu dùng các đặc tính đó để dự báo về người làm chủ thì rất hạn chế (Xem: Reynolds, 1997).

 

Ý định làm chủ có thể là thành phần đầu tiên và xác định hướng đến các hành vi có tính làm chủ. Luôn giữ trong đầu việc sáng tạo ra một tổ chức mới đòi hỏi thời gian, bao gồm chú tâm đến kế hoạch và tiến trình nhận thức ở mức cao độ, những hành vi có tính làm chủ có thể được xem xét như dạng hành vi có kế hoạch có ý định cho một mô hình mới (Krueger et al., 2000.)

 

Có nhiều mô hình khác nhau về ý định làm chủ, dưới đây là một mô hình có tên gọi TPB của Ajzen (1991) – Theory of Planned Behavior, bao gồm: Thái độ hướng đến hành vi; Giá trị chuẩn mực chủ quan, và Cảm nhận kiểm soát hành vi (gần với cảm nhận tự tin vào bản thân của Bandura, 1986). Ba yếu tố này tạo thành ý định có tính làm chủ và sau đó tạo ra hành vi làm chủ.

 

 

 

Mô hình này có thể hữu ích cho việc giáo dục những người có mong muốn khởi nghiệp, để họ biết hình thành một người làm chủ không phải đơn giản như là có tiền, có mặt bằng, và thành lập tổ chức, mà cần phải xem xét những giá trí chuẩn mực của bản thân, vì nó sẽ tạo thuận lợi hoặc rào cản cho việc làm chủ sau này, thứ nữa phải dựa vào khả năng kiểm soát và thành thạo của hành vi.

 

2.3.3. Động lực trở thành người làm chủ

        

Tám yếu tố được mô tả trong bảng dưới đây cho thấy các yếu tố làm động cơ cho tinh thần làm chủ một tổ chức khá đa dạng và trải đều trong mọi mặt.

Các khía cạnh động lực

Đặc điểm

Độc lập

-      Mong ước đưa ra quyết định quan trọng

-      Suy nghĩ một cách độc lập và độc đáo

-      Khả năng đưa ra những nhận xét độc lập

Tự tin/ tin vào tính hiệu quả của bản thân

-      Niềm tin về khả năng đạt được thành công, đạt được mục tiêu và vượt qua những trở ngại

Động lực thành đạt

-      Mong ước phát triển, đạt được những tiêu chuẩn cao và đạt mục tiêu

Hướng tới tương lai

-      Khuynh hướng hành động và làm cho mọi chuyện thành sự thật

Hoài bão (khỏe mạnh)

-      Mong ước to lớn để đạt kết quả cao

Năng lượng

-      Cật lực, nhẫn nại, chịu đựng

Đam mê vì bản thân (Vị kỷ)

-      Hành động dựa trên những hứng thú của bản thân

-      Đam mê theo đuổi những mục tiêu bản thân, nhưng không có nghĩa chối bỏ người khác

-      Hy sinh những thứ khác để luôn theo đuổi ưu tiên của bản thân

Kiên trì

-      Trở nên chắc chắn khi gặp trở ngại

-      Không bao giờ bỏ cuộc khi thất bại

-      Theo đuổi những ý định của bản thân

 Bảng 1: Các yếu tố về tinh thần làm chủ (trích lại từ Dej, 2007)

 

Tuy nhiên, những yếu tố cá nhân không hẳn tạo ra động lực cho người làm chủ mà còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như tinh thần quốc gia, thời gian, giới, và nhóm xã hội… Mỗi một hành động có tính làm chủ đều tính tới yếu tố môi trường, nó có thể ngăn chặn hoặc cổ vũ cho các hoạt động có tính làm chủ. Hai yếu tố bên trong và bên ngoài này được mô tả sau đây: Yếu tố bên ngoài chính là môi trường, có tính đẩy hành vi con người giúp con người tránh khỏi tình huống hiện tại; Ngược lại, yếu tố bên trong chính là lực thu hút (kéo vào) giúp cá nhân có khuynh hướng hướng tới tương lai

 

Đối với những người khởi nghiệp, thì động cơ có vai trò quan trọng, tuy nhiên không hẳn là từ động cơ thì có thể hình thành một tổ chức, mà nó phải chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác: Sự đánh giá của việc khởi nghiệp với môi trường khởi nghiệp; Nhận thức về những  kỹ năng và năng lực cần thiết; Sự hiện diện của mô hình mẫu; và Nỗi sợ hãi thất bại và những hệ quả của nó trên cá nhân, xã hội và tài chính (Dej, 2007)

 

2.3.4 Tính cách và Năng lực (Dej, 2007)

         

Tính cách của người làm chủ

  

Người làm chủ là trọng tâm trong tiến trình thể hiện tinh thần làm chủ. Do đó người làm chủ được mong đợi như một con người mang lại thành công cho một tổ chức. Vậy nên không có gì đáng ngạc nhiên khi những nghiên cứu ban đầu về tâm lý là đề cập đến những đặc điểm tính cách của người làm chủ.

 

Về sau có một khuynh hướng khác mới hơn tập trung nghiên cứu về khả năng của người làm chủ, chứ không hẳn chỉ là tính cách. Khả năng là điều có thể học được. Kiggundu (2002) cho rằng khả năng của người làm chủ bao gồm: thái độ, giá trị, niềm tin, kiến thức, kỹ năng,năng lực, tính cách, sự thông thái, sự chuyên môn (xã hội, kỹ thuật, quản lý), và khuynh hướng hành vi mong đợi sự thành công và vững bền cho một tổ chức.

 

Ở khuynh hướng một, có hai lý thuyết được dùng nhiều để đo lường tích cách là Big-5 Personality (Costa & McCrae, 1992) và MBTI,  dù rằng đến thời điểm này thì cả hai đã bị các nhà khoa học đánh giá là thiếu cơ sở khoa học, không thuyết phục về độ chính xác.

 

Thế nhưng, các nghiên cứu tâm lý không muốn dừng lại ở việc phân biệt sự khác nhau về tính cách giữa con người với con người, mà nhằm phân biệt sự khác biệt về tính cách giữa người trở thành người làm chủ và người trở thành người làm chủ thành công.

 

Bảy đặc điểm tính cách này bao gồm: Động cơ thành đạt; Sự kiểm soát; Chấp nhận rủi ro; Kiên nhẫn với những thứ không rõ ràng; Sáng tạo; Nhu cầu độc lập; và Sự tự tin vào hiệu quả của bản thân.

 

Năng lực của người làm chủ

 

Năng lực cho người có tinh thần làm chủ là một bộ bao gồm kiến thức, kỹ năng và khả năng cho thấy có liên quan tích cực đến sự thành công của một tổ chức (Markman, 2007). Những năng lực đó bao gồm:

 

  • Tầm nhìn của việc làm chủ
  • Sự tự tin
  • Nhận thức diện rộng
  • Linh hoạt
  • Thấu cảm
  • Tư duy khái niệm
  • Quản lý
  • Kết nối tinh thần làm chủ
  • Ra quyết định
  • Khuynh hướng hành động

 

Hiện tại, có một công cụ được đề xuất bởi hai tác giả Driessen và Zwart (2005) tại Hà Lan để đo lường các yếu tố tính cách và năng lực này của doanh nghiệp, được mô tả trên 10 yếu tố, có tên Entrepreneur Scan (Máy quét người làm chủ):

 

  • Nhu cầu thành đạt
  • Nhu cầu tự chủ
  • Nhu cầu quyền lực
  • Khuynh hướng xã hội
  • Niềm tin vào bản thân
  • Sự nhẫn nại
  • Chấp nhận rũi ro
  • Nhận thức về thị trường
  • Sáng tạo
  • Linh hoạt

 

Dưới đây là ví dụ mô tả 10 yếu tố này sau khi được đánh giá qua bảng hỏi 100 câu trên mạng internet (Xem http://www.entrepreneurscan.com/). Bản này có thể đo lường trên mạng internet, và nhận báo cáo với giá thấp nhất 57 đô la Mỹ

 

 

Tiếp theo là bảng mô tả cho bốn kiểu tư duy: khai khá, người bán hàng, quản trị, và chuyên gia

 

 

3.       Kết luận

 

Đa phần các chương trình đào tạo khởi nghiệp tại Việt Nam đều thiếu nền tảng về tâm lý học tổ chức như những gì tôi đã trình bày ở trên (vui lòng tham khảo thêm các chương trình đào tạo khởi nghiệp như của Viện YUP tại http://yup.edu.vn/x-startup/, hoặc như của Học viện khởi nghiệp và kinh doanh thực tiễn tác giả không tìm thấy chương trình đào tạo, http://vietfounder.edu.vn/khoa-hoc/cac-khoa-hoc-khoi-nghiep-kinh-doanh.htm, hoặc của trường Khởi nghiệp ASK tại http://www.ask.edu.vn/khoa-hoc/khoi-nghiep---lam-chu-15.html, và nhiều chương trình đào tạo khác tương tự)

 

Chủ yếu các chương trình này nhấn mạnh đến ý tưởng kinh doanh, xây dựng chiến lược kinh doanh, và các chiến lược khác. Các thành phần trọng tâm về tinh thần làm chủ, về khám phá tính cách bản thân… gần như không được đề cập đến, điều này sẽ vô hình chung gây ra tình trạng “ảo tưởng” (không biết mình thật sự có nên khởi nghiệp hay không) cho giới trẻ.

 

Tôi cho rằng với năng lực và sự đầu tư của khoa tâm lý học và của các giảng viên, chúng ta có thể mở đầu cho một chương trình thực tế nhưng có nền tảng khoa học, để trước hết mang lại lợi ích cho sinh viên ngành tâm lý, sau đó mang lại lợi ích cho cộng đồng và cho xã hội.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Ajzen. I., (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211
  2. Costa, P. T. Jr., & McRae, R. R. (1992). Revised NEO Personality Inventory (NEO-PI-R) and NEO Five-Factor Inventory (NEO-FFI) professional manual. Odessa, Florida: Psychological Assessment Resources, Inc.
  3. Dej, D. 2007. Personality and Competencies of the entrepreneurs. Trong León, J. & Gorgievski, M. (2007). Psychology of Entrepreneurship Research and Education. Universidad Nacional de Educación a Distancia Nadrid
  4. Dej. D. (2007). Motivation to become entrepreneur. Trong León, J., & Gorgievski, M. (2007). Psychology of Entrepreneurship Research and Education. Universidad Nacional de Educación a Distancia Nadrid
  5. Donatus Okhomina. Entrepreneurial orientation and psychological traits: the moderating influence of supportive environment. Journal of Behavioral Studies in Business. Fayetteville State University. Tải xuống ngày 7/9/2016 từ http://www.aabri.com/manuscripts/10450.pdf
  6. Driessen, M. P. (2005). Trích lại từ Laan, R., Drissen, M., & Zwart, P. Entrepreneur Scan identifies potential fast growers. Tải xuống ngày 09/09/2016 từ: file:///C:/Users/User/Desktop/I-O%20Psy/Entrepreneur-Scan-identifies-potential-fast-growers.pdf
  7. Frese, M. (2009). Toward a Psychology of Entrepreneurship. An Action Theory Perspective. Foundations and Trends in Entrepreneurship, 5(6), 435–494
  8. Kate Nguyen. (2014). Entrepreneurship là gì? Marketing Team Lead at Uber Vietnam (bài viết xuất bản tự cá nhân)
  9. Kaufmann, J., Welsh, B., & Bushmarin, N. (1995, Fall). Locus of control and entrepreneurship in the Russian Republic. Entrepreneurship Theory and Practice, 20(1), 43-56.
  10. Kiggundu, M. N. (2002). Entrepreneurs and entrepreneurship in Africa: What is known and what needs to be done. Journal of Developmental Entrepreneurship, 7(3), 239-258.
  11. Krueger. N., et al. , (2000). Competing models of entrepreneurial intentions. Journal of Business Venturing, 15(5-6), 411–432. Tải xuống ngày 9/9/2016 tại http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0883902698000330
  12. León, J., & Gorgievski, M. (2007). Psychology of Entrepreneurship Research and Education. Universidad Nacional de Educación a Distancia Nadrid
  13. Markman, D. (2007). Entrepreneurs’ Competencies. Trong J.R. Frese, M., & Baron, A. (Ed.), The Psychology of Entrepreneurship. New Jersey: Lawrence Erlbaum Associates.
  14. Markman, D., Balkin, B. & Baron, A. (2002). Inventors and new venture formation: the effects of general self-efficacy and regretful thinking. Entrepreneurship Theory and Practice, Winter, 149-165.
  15. McClelland, C. (1961). N achievement and entrepreneurship: A longitudinal study. Journal of Personality and Social Psychology, 1(4), 389-392
  16. Miner. J., & Raju. N. (2004). Risk Propensity Differences Between Managers and Entrepreneurs and Between Low- and High-Growth Entrepreneurs: A Reply in a More Conservative Vein. Journal of Applied Psychology Copyright, 89(1), 3–13
  17. Moriano, Zanowska, & Palací, (2007) Entrepreneurship as a process. Trong León, J., & Gorgievski, M. (2007). Psychology of Entrepreneur research and education. Universidad Nacional de Educación a Distancia Nadrid
  18. Moriano. J., & Valero. E. (2007). Eramus Intensive Programme. Trong León, J., & Gorgievski, M. (2007). Psychology of Entrepreneur research and education Universidad Nacional de Educación a Distancia Nadrid
  19. Pihkala, T., & Vesalainen, J. (2000). Barriers to entrepreneurship - educational opportunities. Paper presented at the IntEnt 2000 Conference, July 11 - 13, Tampere.
  20. Reynolds, D. (1997). Who starts new firms? Preliminary explorations of firms-ingestation. Small Business Economics, 9, 449-462.

 

Đề nghị trích dẫn:

Ngô Minh Uy. (10/2016). Tâm lý học về tinh thần làm chủ. Kỷ yếu hội thảo khoa học. Đóng góp của tâm lý học vào công tác tổ chức nhân sự trong bối cảnh Việt Nam. Khoa tâm lý học, trường ĐH KHXH&NV Tp. HCM. 

 

Ngô Minh Uy

Giám đốc Trung tâm tâm lý chuyên nghiệp WE Link

ngominhuy@gmail.com |  0932115494

shadow_sanpham
KHI BẠN CÓ VẤN ĐỀ VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN

(Sống khoẻ) - Khi có bệnh thì đi chữa bệnh. Điều này không có gì phải bàn, nhưng trên thực tế, có những căn bệnh mà bệnh nhân không hề biết mình có bệnh, đặc biệt là những bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần.