Facebook chat


NHẬN THỨC VỀ SỨC KHOẺ TÂM THẦN CỦA HỌC SINH

Đăng lúc: 07-09-2016 - Đã xem: 368

 

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ SỨC KHOẺ TÂM THẦN CỦA HỌC SINH

Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.

 

Trần Lý Ngọc Thanh

Mục tiêu

Xác định nhận thức của học sinh THCS (Trung học cơ sở) đối với vấn đề sức khoẻ tâm thần, từ đó đưa ra định hướng nhằm nâng cao nhận thức về sức khoẻ tâm thần cho học sinh THCS.

 

Chủ đề của bài nghiên cứu

Bài nghiên cứu hướng đến chủ đề 5 của hội thảo: Hoạt động truyền thông cho sự phát triển tâm lý học học đường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhận thức của học sinh trung học cơ sỏ về vấn đề sức khỏe tâm thần nằm ở mức trung bình. Và nguyên nhân khiến cho sự hiểu biết của học sinh ở mức thấp là các em không được cung cấp những thông tin về vấn đề sức khỏe tâm thần thông qua các kênh truyền thông chính thống. Trong nhà trường, các kiến thức về sức khỏe tâm thần hầu như không được đề cập, các em không có được sự hướng dẫn để có những hiểu biết đúng đắn và phù hợp về vấn đề này. Điều này cho thấy, truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến các kiến thức về sức khỏe tâm thần học đường và việc nâng cao chất lượng của truyền thông sẽ giúp các em học sinh cũng như các lực lượng giáo dục khác trong nhà trường có được những hiểu biết đúng đắn về vấn đề này.

 

Tóm tắt: Nội dung tham luận phản ánh thực trạng nhận thức của học THCS tại TPHCM về khái niệm sức khoẻ tâm thần (SKTT), các biểu hiện của sức khoẻ tâm thần khoẻ mạnh và không khoẻ mạnh. Kết quả thực trạng cho thấy phần lớn học sinh Trung học cơ sở (THCS) có nhận thức ở mức trung bình đối với khái niệm SKTT với điểm trung bình từ 2,8 – 4,19; tuy nhiên, các vấn đề cụ thể về biểu hiện SKTT khoẻ mạnh và SKTT không khoẻ mạnh liên quan từng nhóm biểu hiện nhận thức, cảm xúc, hành vi, mối quan hệ được học sinh nhận thức rõ ràng và đúng đắn trong đó biểu hiện nhóm cơ thể được học sinh nhận thức thấp nhất. Việc phổ biến kiến thức liên quan sức khoẻ tâm thần trong nhà trường sẽ góp phần giúp học sinh có thái độ đúng đắn với vấn đề này và giúp cho công tác phòng chống biểu hiện sức khoẻ tâm thần không khoẻ mạnh có hiệu quả hơn.

 

Toàn văn bài tham luận

1. Đặt vấn đề

Năm 2011, hiệp hội sức khoẻ tâm thần thế giới đã chọn khẩu hiệu“Không có sức khoẻ nếu không có sức khoẻ tâm thần”  làm mục tiêu chính trong công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Hiện nay ở nước ta công tác chăm sóc sức khoẻ tâm thần vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong nhà trường hoạt động này còn manh nha, rời rạc và rất non yếu (Nguyễn Văn Thọ, 2014). Mặc dù khái niệm sức khoẻ tâm thần đã được mở rộng, nhưng hiện nay trong trường học sức khoẻ tâm thần vẫn được hiểu theo nghĩa hẹp, nghĩa là thuật ngữ này dùng để ám chỉ những rối loạn hay những bệnh lý tâm thần và những vấn đề khác như bạo lực, lạm dụng chất gây nghiện, chính vì vậy, học sinh không thoải mái khi đặt vấn đề này.

 

Hiện nay có nhiều khái niệm về sức khoẻ tâm thần được đưa ra (Lương Hữu Thông, 2005; Nguyễn Minh Hải, 2009; Hoàng Trung Học, 2014). Kế thừa quan điểm từ các nghiên cứu của tác giả đi trước, chúng tôi hiểu khái niệm SKTT là thuật ngữ mô tả tình trạng hoạt động tâm lý của mỗi cá nhân từ trạng thái khoẻ mạnh đến bệnh lý trên các mặt nhận thức, cảm xúc, hành vi và mối quan hệ.

 

Giai đoạn tuổi Trung học cơ sở là giai đoạn phát triển tâm lý rất phức tạp, nhiều mâu thuẫn kèm theo đó là những thách thức từ xã hội, gia đình, nhà trường và sự thay đổi trong cơ thể các em ở lứa tuổi này dễ gây ra nhiều khó khăn tâm lý. Một trong những nguyên nhân gây nên các rối loạn tâm thần ở giai đoạn này là sự  thiếu nhận thức về vấn đề sức khoẻ tâm thần khiến học sinh có thái độ thờ ơ với những tở ngại trong việc học tập, giao tiếp, cảm xúc mà trẻ gặp phải trong giai đoạn này, chính điều này khiến công tác dự phòng, can thiệp sớm các rối nhiễu tâm lý trở nên khó khăn và bị bỏ ngỏ (Nguyễn Sinh Phúc, 2013).

 

Trước nguy cơ đó, nhiều đề án được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho cộng đồng, học sinh các cấp. Cụ thể như đề án 1215/QĐ – TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về Trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011 – 2020, trường đại học Lao động xã hội (Nguyễn Sinh Phúc, 2013). Một trong những mục tiêu mà đề án đưa ra là nâng cao nhận thức của mọi người về khái niệm sức khoẻ tâm thần nhằm hoàn thành tốt công tác phòng ngừa các rối loạn tâm thần (Nguyễn Sinh Phúc, 2013). Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục Việt nam hoàn toàn tán thành mục tiêu đề án, nhưng cho đến nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đo lường  nhận thức sức khoẻ tâm thần toàn dân nói chung, sức khoẻ tâm thần trong trường học nói riêng. Chính vì vậy tìm hiểu nhận thức của học sinh về vấn đề này là điều hết sức cần thiết nhằm nâng cao ý thức học sinh trong việc coi trọng SKTT cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vượt qua khó khăn tâm lý trong mỗi giai đoạn phát triển cá nhân, và phòng ngừa các rối loạn tâm thần.

 

2.  Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên 450 học sinh thuộc bốn trường THCS trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh gồm Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Gia Thiều, Hồng Bàng và Lê Lợi. Kết quả nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0.

 

Cấu trúc của bảng hỏi được xây dựng gồm 3 phần chính:

Phần 1 nhằm tìm hiểu sự hiểu biết của học sinh THCS về SKTT ở mức độ Biết:

Câu 1 nhằm tìm hiểu sự hiểu biết của học sinh về các cụm từ “Sức khoẻ tâm thần”, “Tâm thần khoẻ manh”, “Tâm thần không khoẻ mạnh”, “Bệnh tâm thần” gồm 3 mức độ đánh giá: “Chưa bao giờ”, “Một lần”; “ Hơn một lần” lần lượt được cho điểm 3, 2, 1.

 

Câu 2 nhằm tìm hiểu mức độ các nguồn cung cấp thông tin về sức khoẻ tâm thần được đánh giá  3 mức: “cung cấp nhiều”; “ cung cấp ít”, “không cung cấp” điểm số lần lượt là 3, 2, 1.

 

Câu 3 mục đích tìm hiểu và cung cấp cho học sinh về khái niệm “sức khoẻ tâm thần” với 7 lựa chọn, trong đó có 6 lựa chọn đúng (từ 1 ->6) và 1 lựa chọn sai (lựa chọn 7) với cách tính điểm như sau: lựa chọn đúng 1 điểm, lựa chọn sai 0 điểm.

 

Phần 2 nhằm tìm hiểu sự hiểu biết học sinh THCS về các khía cạnh liên quan đến SKTT ở mức độ Hiểu.

Câu 4 Tìm hiểu mức độ hiểu của học sinh về các khía cạnh liên quan SKTT qua các nhận định chung mà người nghiên cứu đưa ra với 5 mức độ “Hoàn toàn đồng ý”, “ Đồng ý”, “Phân vân”, “Không đồng ý”, “Hoàn toàn không đồng ý”điểm lần lượt 5, 4, 3, 2, 1.

 

Câu 5 Tìm hiểu mức độ hiểu của học sinh về các khía cạnh liên quan SKTT gồm “SKTT khoẻ mạnh” và “SKTT không khoẻ mạnh” xét trên các biểu hiện cơ thể, nhận thức, cảm xúc, hành vi, mối quan  hệ với ba lựa chọn Đúng (2 điểm), Sai (0 điểm), Không biết (1 điểm).

 

Câu 6 Tìm hiểu cách ứng phó của học sinh với các biểu hiện SKTT không khoẻ mạnh gồm các mức độ “Hoàn toàn đồng ý”, “Đồng ý”, “Phân vân”, “Không đồng ý”, “Hoàn toàn không đồng ý” với điểm số lần lượt 5, 4, 3, 2, 1.

 

Phần 3: Khảo sát ý kiến của học sinh về các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về SKTT.

*Thang đánh giá về điểm số

 

Câu 2 đánh giá mức độ cung cấp theo thang bậc 3 ứng với các mức độ. Điểm thấp nhất là 1 điểm cao nhất 3 chia đều thang đo làm 3 mức với các khoảng liên tục, đều nhau theo đó ta có thang điểm như sau:

 

Điểm trung bình các mức độ chia theo thang bậc 3

ĐTB

Mức độ cung cấp

1 – 1,66

Không cung cấp

1,67 – 2,33

Cung cấp ít

2,34 – 3

Cung cấp nhiều

 

Điểm trung bình thang bậc 5 của câu 3 được quy ước như sau: điểm thấp nhất 0 điểm, điểm cao nhất 7 điểm người viết chia mức độ nhận thức mức theo công thức 7/5=0,4 từ đó có 5 mức độ nhận thức được quy ước như bảng dưới.

 

Điểm trung bình được quy đổi theo thang bậc 5 (gồm câu 4, 6, 7) ứng với các mức độ: Điểm thấp nhất là 1 điểm cao nhất là 5 chia đều thang đo làm 5 mức với các khoảng liên tục, đều nhau theo đó ta có thang điểm như sau:

 

Điểm trung bình các mức độ theo thang bậc 5

ĐTB

Câu 3

ĐTB

Câu 4, 6, 7

0 – 1,39

Kém

1 – 1,79

Hoàn toàn không đồng ý

1,4 – 2,79

Yếu

1,8 – 2,59

Không đồng ý

2,8 – 4,19

Trung bình

2,6 – 3,39

Phân vân

4,2 – 5,59

Khá

3,4 – 4,19

Đồng ý

5,6 - 7

Tốt

4,2 – 5

Hoàn toàn đồng ý

 

3. Kết quả nghiên cứu

Nhận thức của học sinh trung học cơ sở về sức khoẻ tâm thần được đánh giá dựa trên những nội dung cụ thể sau:

 

3.1.Nhận thức của học sinh trung học cơ sở về vấn đề sức khoẻ tâm thần  mức độ Biết

Bảng 1. Tỷ lệ % học sinh biết đến các cụm từ liên quan SKTT (N=455)

 

Sức khoẻ tâm thần

Tâm thần khoẻ mạnh

Tâm thần
 không khoẻ mạnh

Bệnh tâm thần

Chưa bao giờ

71,9

63,7

66,2

19,1

Một lần

18,5

18,9

18,9

7,3

Hơn một lần

9,7

17,4

14,7

73,6

        

 

 

 

 

Kết quả khảo sát 455 học sinh THCS về nghe/ nhìn thấy các cụm từ liên quan SKTT cho thấy có đến 335 học sinh “hơn một lần” nghe cụm từ “Bệnh tâm thần” chiếm 73,6% toàn mẫu. Ngược lại, tỷ lệ “hơn một lần” nghe hoặc nhìn thấy cụm từ “sức khoẻ tâm thần” “ tâm thần khoẻ mạnh”, “tâm thần không khoẻ mạnh” là rất thấp. Số liệu trên cũng cho thấy khái niệm SKTT là vấn đề khá mới đối với học sinh THCS.

 

Nhằm tìm hiểu các nguồn cung cấp thông tin về SKTT cho học sinh người nghiên cứu tiến hành khảo sát ý kiến của các em và có được kết quả như sau:

 

Bảng 2. Các nguồn cung cấp thông tin giúp học sinh THCS biết đến SKTT

Các nguồn cung cấp

Mức độ cung cấp (%)

ĐTB

XH

Cung cấp nhiều

Cung cấp ít

Không cung cấp

1.Mạng xã hội

52,5

30,3

17,1

2,35

2

2.Chương trình truyền hình

52,7

38,2

9,0

2,44

1

3.Báo tạp chí

31,6

44,0

24,4

2,07

4

4.Mọi người xung quanh

47,3

39,1

13,6

2,34

3

5.Bảng tin trường

15,6

42,9

41,5

1,74

5

6.Chuyên đề do trường tổ chức

15,2

41,1

43,7

1,71

6

 

ĐTB: Điểm trung bình

XH: Xếp hạng

 

Nhìn chung, các nguồn cung cấp kiến thức về SKTT cho học sinh THCS được đánh giá với điểm trung bình ở khoảng 1,71 – 2,35 tương ứng với mức cung cấp ít (ĐTB:1,67 – 2,33). Trong 6 nguồn cung cấp thông tin liên quan đến SKTT cho học sinh THCS, thì “chương trình truyền hình” là yếu tố cung cấp thông tin nhiều nhất, kế đến là “mạng xã hội”. Nguồn cung cấp thông tin về SKTT ít nhất là từ nhà trường, cụ thể, 43,7% học sinh cho rằng các “chuyên đề do trường tổ chức” không cung cấp kiến thức này, kế đến là 41,5% cho “bảng tin trường”. Kết quả này cho thấy hoạt động chăm sóc SKTT trong trường học còn rất hạn chế và chưa được chú trọng nhiều.

 

Bảng 3. Mức độ Biết của học sinh THCS về cụm từ “sức khoẻ tâm thần” theo lớp

 

Kém

Yếu

Trung bình

Khá

Tốt

Sig.

Lớp 6
(N= 113)

2,7

42,5

44,2

8,0

2,7

0,227

 

Lớp 7
(N=118)

0,8

31,4

44,9

14,4

8,5

Lớp 8

(N= 113)

1,8

28,3

53,1

13,3

3,5

Lớp 9
(N= 111)

2,7

30,6

51,4

12,6

2,7

 

Nhằm tìm hiểu sự khác biệt trong mức độ nhận thức về khái niệm  “sức khoẻ tâm thần” giữa các khối lớp, chúng tôi đã sử dụng phép kiểm định Khi bình phương. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê giữa các khối lớp (sig.= 0,227 > 0,05). Kết quả này tương đồng với số liệu ở bảng trên bởi việc mức độ nhận thức SKTT ở mức nào phụ thuộc vào việc học sinh tiếp xúc với các nguồn cung cấp thông tin liên quan SKTT nhiều hay ít.

 

Nhìn chung, mức độ nhận thức của học sinh các khối lớp về khái niệm SKTT nằm tập trung ở mức Trung bình (2,8 – 4,19), cụ thể tỷ lệ % các khối lần lượt là lớp 6: 44,2%; lớp 7: 44,9%; lớp 8: 53,1% và lớp 9: 51,4%.

 

3.2. Nhận thức của học sinh THCS về các khía cạnh liên quan đến SKTT mức độ Hiểu

3.2.1. Nhận định chung của học sinh THCS về SKTT

 

Bảng 4. Điểm trung bình về các nhận định chung SKTT

Các nội dung

ĐTB

SD

1.SKTT không có mối liên hệ mật thiết với sức khoẻ thể chất

2,72

1,29

2.Chỉ có những người bị “khùng”, “điên”, hoặc đi vào bệnh viện tâm thần mới cần quan tâm đến SKTT.

2,12

1,27

3.Có thể đánh giá SKTT của một người qua các biểu hiện về hành vi, cảm xúc, mối quan hệ của mỗi cá nhân với mọi người xung quanh.

3,97

0,98

4.Lối sống (học tập, nghỉ ngơi, ăn ngủ hợp lý...)của mỗi người  ảnh hưởng đến SKTT.

3,70

1,21

5.SKTT không quyết định việc mỗi người có được cảm giác thoải mái, hài hoà, cân bằng cảm xúc và dễ dàng có được mối quan hệ với mọi người xung quanh.

2,88

1,15

6.Các bệnh cơ thể (cảm, sốt, viêm họng, cúm...) không ảnh hưởng đến SKTT.

3,07

1,23

7.Việc hoàn thành nhiệm vụ học tập, vui chơi giải trí, tạo dựng mối quan hệ bạn bè, thầy cô không liên quan gì đến SKTT cả.

2,74

1,39

8.SKTT ảnh hưởng đến việc mỗi người vượt qua được những khó khăn cuộc sống và đương đầu với stress.

3,82

0,95

9. SKTT là trạng thái của tất cả mọi người bao gồm người có trạng thái tâm thần khoẻ mạnh và người bị bệnh tâm thần (trầm cảm, tự kỉ, rối loạn lo âu...)

3,87

1,18

10.Không nên đề cập đến vấn đề SKTT trong trường học vì nó rất ghê sợ.

2,04

1,12

11.Chuyên viên tâm lý có thể giúp hỗ trợ nâng cao SKTT mỗi cá nhân.

4,15

0,98

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đối với các nhận định đúng về SKTT (số 3, 4, 8, 9, 11), điểm trung bình dao động trong khoảng 3,70 – 4,15 nằm trong mức đồng ý. Học sinh tỏ ra phân vân đối với nhận định “Có thể đánh giá SKTT của một người qua các biểu hiện về hành vi, cảm xúc, mối quan hệ của mỗi cá nhân với mọi người xung quanh” và “SKTT là trạng thái của tất cả mọi người bao gồm người có trạng thái tâm thần khoẻ mạnh và người bị bệnh tâm thần (trầm cảm, tự kỉ, rối loạn lo âu...). Có thể lý giải điều này bởi mức độ biết của học sinh chỉ nằm ở mức trung bình, việc nhìn nhận những dấu hiệu bản chất chưa nhiều để các em có những nhận thức tích cực hơn.

 

Đối với nhận định sai về SKTT (số 1, 2, 5, 6, 7, 10), ĐTB nằm trong khoảng 2,04 –3,07 hướng về mức không đồng ý – phân vân.

 

Chỉ có 2/ 6 nhận định sai có ĐTB nghiêng về mức “không đồng ý” đó là nhận định “Không nên đề cập đến vấn đề SKTT trong trường học vì nó rất ghê sợ” ĐTB là 2,04; và nhận định “Chỉ có những người bị “khùng”, “điên”, hoặc đi vào bệnh viện tâm thần mới cần quan tâm đến SKTT” ĐTB 2,12. Việc học sinh có nhận thức rõ ràng không đồng ý với hai nhận định đó là dấu hiệu đáng mừng bởi phản ánh phần nào việc học sinh giảm định kiến, khu trú cách hiểu sức khoẻ tâm thần trong khuôn khổ mang ý nghĩa tiêu cực là bệnh hoặc rối loạn.

 

Với những nhận định sai còn lại, ĐTB nằm trong mức “ Phân vân”, trong đó  nhận định “Các bệnh cơ thể (cảm, sốt, viêm họng, cúm. . . ) không ảnh hưởng đến SKTTcóĐTB cao nhất 3,07 khiến người nghiên cứu lo lắng bởi vấn đề SKTT và sức khoẻ thể chất luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau, thậm chí có những biểu hiện bệnh cơ thể là do yếu tố tâm lý gây nên.

 

3.2.2. Nhận thức học sinh THCS về SKTT khoẻ mạnh và SKTT không khoẻ mạnh

Sau khi tính trung bình chung tổng thể từ các dấu hiệu riêng lẻ, ta có tỷ lệ % trung bình chung của các nhóm biểu hiện như sau:

 

Bảng 5. Trung bình chung tỷ lệ %  nhận thức của học sinh THCS về các nhóm biểu hiện thuộc về SKTT khoẻ mạnh hoặc SKTT không khoẻ mạnh.

Trung bình chung

 tỷ lệ % các nhóm biểu hiện

Chọn đúng

Chọn sai

Chọn không biết

Về mặt cơ thể

67,05

5,14

27,83

Về mặt nhận thức

83,84

3,71

12,49

Về mặt cảm xúc

78,37

7,03

14,62

Về mặt hành vi

78,53

4,43

16,63

Về mối quan hệ

81,25

3,7

15,02

Tỷ lệ % TB tổng thể

77,81

4,8

17,32

 

Tỷ lệ phần trăm trung bình tổng thể cho thấy học sinh THCS có nhận thức khá đúng về  các dấu hiệu SKTT khoẻ mạnh và SKTT không khoẻ mạnh với tỷ lệ % chung cho lựa chọn đúng là 77,81% và lựa “chọn sai” là 4,8%, lựa chọn “không biết” chiếm 17,3%. Tỷ lệ phần trăm trung bình chung các nhóm cho thấy học sinh nhận thức rõ các dấu hiệu SKTT khoẻ mạnh và SKTT không khoẻ mạnh thuộc nhóm biểu hiện về mặt nhận thức có tỷ lệ 83,84% chọn đúng - cao nhất so với các nhóm khác; nhận thức rõ thứ hai là nhóm biểu hiện mối quan hệ với 81,25% chọn đúng. Tỷ lệ phần trăm trung bình nhóm cơ thể có tỷ lệ thấp nhất 67,05% trong, chứng tỏ học sinh THCS nhận thức khá thấp các dấu hiệu SKTT khoẻ mạnh và SKTT không khoẻ mạnh của nhóm cơ thể.

 

Bảng 6. Nhận thức học sinh về biểu hiện SKTT khoẻ mạnh  hoặc SKTT không khoẻ mạnh ở mặt nhận thức

Các biểu hiện

Chọn đúng

Chọn sai

Không biết

1.Đầu óc luôn trong trạng thái lú lẫn, mơ hồ , không thể tập trung chú ý.

91,2

2,2

6,6

2.Có khả năng tiếp thu bài, học tập tốt.

94,1

1,1

4,8

3. Luôn có những ý nghĩ kì quặc, phi lý, hoặc luôn nói về quá khứ.

71,0

5,1

24,0

4. Có những kỹ năng ứng phó với khó khăn trong học tập hoặc các công việc hằng ngày.

81,8

4

14,3

5.Luôn có những ý nghĩ tiêu cực (như sẽ rớt trong kì thi sắp tới, hoặc bạn bè không ai ưa mình...)

73,4

7,0

19,6

6.Căng thẳng về mặt thần kinh

89,9

2,9

7,3

7.Tự tin trong suy nghĩ hoặc bộc lộ những ý kiến riêng của mình.

85,5

3,7

10,8

 

Biểu hiện “Có khả năng tiếp thu bài, học tập tốt” có 94,1%  học sinh lựa “chọn đúng” và 6% học sinh “chọn sai” hoặc “không biết”.

 

Biểu hiện có tỷ lệ chọn đúng thấp nhất trong nhóm nhận thức chỉ có 71% là “luôn có những ý nghĩ kì quặc, phi lý, hoặc luôn nói về quá khứ”, có lẽ ở tuổi này học sinh chưa nhận diện được thế nào là niềm tin phi lý một trong những biểu hiện rất đáng chú ý ở mặt SKTT không khoẻ mạnh.

 

3.3.Biện pháp giúp nâng cao nhận thức về SKTT

Bảng 7. Các biện pháp giúp nâng cao nhận thức về SKTT

Các biện pháp

ĐTB

SD

 

Về phía nhà trường

XH

1.Tổ chức các chuyên đề liên quan đến SKTT

4,36

0,787

1

2.Lồng ghép các kiến thức liên quan đến SKTT trong các môn học như Ngữ Văn, Giáo dục công dân...

3,91

0,98

7

3.Nhà trường nên tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày “ sức khoẻ tâm thần thế giới” như phát tờ rơi hoặc băng rôn...

3,92

0,94

6

6.Phát triển các hoạt động của phòng tham vấn tâm lý.

4,13

0,82

5

5. Có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, hiệp hội tâm lý cũng như chuyên viên tâm lý trong trường trao đổi kiến thức liên quan đến sức khoẻ tâm thần cho thầy cô và phụ huynh.

4,27

0,793

2

Về phía cá nhân

4.Tích cực học tập, trang bị những kiến thức tâm lý lứa tuổi, các kỹ năng sống cần thiết.

4,26

0,789

3

7.Tích cực tham gia các chuyên đề tâm lý do trường tổ  chức

4,15

0,81

4

8.Chia sẻ những kiến thức bản thân mình biết về sức khoẻ tâm thần với bạn bè.

4,13

0,85

5

 

Bảng trên cho thấy đa số học sinh lựa chọn các giải pháp nâng cao nhận thức về SKTT, với điểm trung bình từ 3,9 – 4,5 nghiêng về mức “đồng ý”. Trong đó, biện pháp  “tổ chức các chuyên đề liên quan SKTT” được lựa chọn cao nhất (ĐTB: 4,36). Biện pháp  Có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, hiệp hội tâm lý cũng như chuyên viên tâm lý trong trường trao đổi kiến thức liên quan đến sức khoẻ tâm thần cho thầy cô và phụ huynhđược học sinh tán thành ở mức cao thứ 2, với ĐTB 4,27 nghiêng về mức hoàn toàn đồng ý. Riêng với nhận định lồng ghép các kiến thức SKTT vào các môn học có ĐTB thấp nhất 3,97.

 

Nhìn chung sự “đồng ý” cao của học sinh THCS về hai biện pháp trên tương đồng với ý kiến của các 6 chuyên gia và chuyên viên tham vấn học đường, theo nhìn nhận các chuyên gia hai biện pháp có “hiệu quả” và “tính khả thi” cao nhất. Tuy nhiên, một biện pháp được chuyên gia và chuyên viên tham vấn học đường đánh giá cao là “lồng ghép nội dung SKTT vào trong các môn học” thì học sinh lựa chọn mức “đồng ý” với thứ hạng khá thấp so với các biện pháp còn lại.

 

4. Kết

shadow_sanpham